Những cập nhật mới về mụn ở tuổi trưởng thành

Những cập nhật mới về mụn ở tuổi trưởng thành

Mụn ở tuổi trưởng thành tuy không quá phổ biến và nhận được nhiều mối quan tâm như mụn ở tuổi vị thành nhiên. Tuy nhiên, các biểu hiện lâm sàng của mụn ở người trưởng thành lại có những đặc điểm khác biệt và tương đối phức tạp.

Khi đánh giá một người trưởng thành mụn trứng cá ngoài việc xem xét tình trạng bệnh nội tiết, thói quen sinh hoạt, chế độ ăn uống, điều quan trọng là phải xem xét các hội chứng liên quan đối với mức độ nghiêm trọng của mụn.

I. Mụn ở tuổi trưởng thành và những biểu hiện lâm sàng khác biệt

Mụn ở tuổi trưởng thành được định nghĩa là mụn trứng cá ở người trên 25 tuổi. Chúng được phân loại thành 3 nhóm:

– Mụn dai dẳng (xuất hiện từ tuổi thiếu niên và kéo dài đến tuổi trưởng thành).
– Mụn mới khởi phát (xuất hiện lần đầu tiên sau 25 tuổi).
– Mụn tái phát (các đợt mụn tái phát từ tuổi thiếu niên đến tuổi trưởng thành).

Mụn ở tuổi trưởng thành có những đặc điểm lâm sàng khách với mụn ở tuổi vị thành niên.

Mụn trứng cá ở tuổi trưởng thành thường có tổng số tổn thương ít hơn, ít comedones hơn. Comedones là những vết sưng nhỏ (sẩn) có màu da, thường thấy ở trán và cằm. Bao gồm các loại như mụn đầu trắng hoặc mụn trứng cá kín, mụn đầu đen hoặc mụn trứng cá hở, mụn trứng cá khổng lồ.

Tuy nhiên, tỷ lệ tổn thương viêm lại tăng lên, tăng số lượng các tổn thương lặp lại như macrocomedones (mụn trứng cá lớn).

Ngoài ra, sự phân bố của mụn và tổn thương do mụn chủ yếu ở “vùng chữ U” (tức là vùng má, quanh miệng và cằm dưới). [H1]

Link nghiên cứu: https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/23302006/

Mụn trứng cá ở tuổi trưởng thành có xu hướng dai dẳng hơn so với mụn trứng cá ở tuổi vị thành niên và có thể biểu hiện với các đợt bùng phát nghiêm trọng, được chứng minh là khó điều trị và cần phải điều trị duy trì lâu dài.

Một số phát hiện mới dưới đây sẽ chỉ ra độ phức tạp và nghiêm trọng của mụn ở tuổi trưởng thành.

II. Một số cập nhật mới về mụn ở tuổi trưởng thành

1. Loạn khuẩn

Chứng loạn khuẩn da trong mụn trứng cá ở người lớn được cho là do C. acnes gây ra. Hầu hết chúng ta đều nghĩ rằng da bị mụn sẽ có nhiều C. acnes hơn da bình thường, nhưng sự thật không phải vậy.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng dường như không có sự khác biệt về số lượng C. acnes ở da người bị mụn và không bị mụn. Mà chính sự chênh lệch về số lượng các chủng loại thuộc C. acnes mới dẫn đến sự khác biệt.

Trong một nghiên cứu, Phylotype IA1 (một chủng phổ biến của C. acnes) đã được phát hiện chiếm ưu thế hơn (trên cả mặt và lưng) của những bệnh nhân bị mụn trứng cá so với các nhóm da khoẻ. [H2]

Ngoài ra, sự mất đa dạng của chủng Phylotype (IA1, IA2, IB1, IB2, II và III) được cho là nguyên nhân kích hoạt hệ thống miễn dịch bẩm sinh, dẫn đến viêm da thông qua việc tạo ra các cytokine gây viêm: IL-8, IL-16, IL-17 và IL-1b.

Tuy nhiên, ngoài sự khác biệt về các chủng C. acnes, những năm gần đây người ta đã nhận thấy tình trạng mụn còn có liên quan đến cả Staphylococcus epidermidis (vi khuẩn tụ cầu), Malassezia spp. (một loại vi nấm) và một số vi khuẩn khác.

S. epidermidis được phát hiện có khả năng ức chế sự tăng sinh của C. acnes và quá trình viêm qua trung gian C. acnes thông qua việc giải phóng các axit béo chuỗi ngắn. Do đó, sự thiếu hụt hoặc tăng bất thường của S. epidermidis cũng ảnh hưởng đến tình trạng mụn. [H3]